“Xem ra khủng hoảng kinh tế không làm franchise thụt lùi, mà trái lại những thị trường tiềm năng như Việt Nam trở nên rất béo bở”, Tiến sĩ Lý Quí Trung, ông chủ của thương hiệu Phở 24, nhận định.
Tiến sĩ Lý Quí Trung được đánh giá là người luôn nắm bắt được tình hình nhượng quyền thương mại (franchise) trong nước cũng như quốc tế. Nhưng chính ông cũng phải ngạc nhiên về một “làn sóng” franchise đang đổ vào Việt Nam, từ các thương hiệu lừng danh của Mỹ đến các tên tuổi mới của châu Á. “Mới đây thôi tôi đã đón liên tiếp 2 đoàn doanh nghiệp của Anh và Tây Ban Nha muốn nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. Các thương hiệu Mỹ, châu Á, trong đó có những thương hiệu rất lớn, đã cập bến Việt Nam”, ông nói.
Cơ hội
Khủng hoảng kinh tế đang tác động đến hầu hết các ngành kinh doanh, sản xuất. Một thị trường mới nổi như Việt Nam cũng không nằm ngoài sự lan tỏa này. Vậy các thương hiệu nước ngoài muốn nhượng quyền vào lúc này liệu có ai đứng ra mua? Ông Albert Kong, Giám đốc Điều hành Công ty Tư vấn Nhượng quyền Thương mại AsiaWide Franchise (Singapore), người có 15 năm kinh nghiệm và đã tư vấn cho hơn 400 công ty nhượng quyền thành công, cũng có mặt tại TP.HCM trong tháng 12 vừa qua. Ông cho rằng, thời điểm kinh tế khó khăn mới là lúc franchise phát triển: Kinh tế đi xuống làm cho chứng khoán không phát triển, bất động sản cũng bị bó hẹp. Lúc này, doanh nghiệp cũng như cá nhân đều cần tìm nguồn đầu tư an toàn hơn và mô hình franchise đáp ứng được nhu cầu đó. Thống kê 90% doanh nghiệp kinh doanh franchise trên 110 quốc gia đều làm ăn có lãi càng bảo chứng cho hiệu quả của mô hình đầu tư này.
Cũng đến Việt Nam trong tháng cuối năm 2008, ông William Edwards, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Edwards Global Services (EGS), công ty của Mỹ có 70 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xúc tiến nhượng quyền thương mại, giúp cho 75 khách hàng tiến hành franchise trên 60 thị trường, cũng khẳng định đây là thời điểm franchise phát triển ở Việt Nam.
20%
Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm của mô hình kinh doanh nhượng quyền tại Việt Nam. Có dự báo cho rằng sắp tới tốc độ này sẽ là 30%/năm.
|
“Trước đây, tôi đến Thổ Nhĩ Kỳ đúng vào thời kỳ khủng hoảng (năm 2000-2001), chứng kiến tâm lý đang bao trùm rằng thị trường này sắp “tiêu” rồi. Nhưng chính thời điểm đó, nếu tiến hành nhượng quyền thương mại, giá thuê cửa hàng và nhân công lại rất rẻ. Chỉ sau 2 năm, các hợp đồng nhượng quyền đều vượt qua khó khăn và đến nay thì làm ăn rất thuận lợi”.
Đặc biệt, các ngân hàng thương mại giờ đây cũng nhìn nhận franchise là một mục tiêu mới. Ông Huỳnh Văn Toàn, thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đại Tín, thừa nhận, ngân hàng không thiếu tiền cho vay, nhưng cho vay vào đâu để tránh rủi ro là điều phải cân nhắc. Ông Toàn cho rằng, mô hình franchise khá an toàn, phù hợp với tiêu chí cho vay của Đại Tín. Theo ông, một thương hiệu đã có sẵn, hệ thống quản trị ổn định, quy trình hoạt động hiệu quả, được kiểm chứng qua nhiều năm, ở nhiều môi trường kinh doanh khác nhau sẽ rất ít rủi ro. Ông khẳng định, sắp tới Đại Tín sẽ dành lãi suất ưu đãi hơn cho các hợp đồng franchise.
Tại Việt Nam, mô hình franchise đã xuất hiện từ những năm 1990 với tốc độ tăng trưởng khoảng 20%/năm. Nhưng ông Huỳnh Văn Minh, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) dự báo, sắp tới ngành này sẽ tăng không dưới 30%/năm.
Những “gã khổng lồ” Mỹ
Theo ông Ngô Dương Hoàng Thảo, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Franchise Việt Nam, hiện có khoảng 100 thương hiệu quốc tế hoạt động kinh doanh tại Việt Nam bằng phương thức nhượng quyền. Trong số đó thì các thương hiệu Mỹ vẫn nổi đình nổi đám hơn cả. Và sắp tới các thương hiệu Mỹ sẽ còn mang đến thị trường Việt Nam nhiều lựa chọn hơn nữa. Đến Việt Nam lần này, ông Edwards, Công ty EGS, mang theo 5 thương hiệu lớn để chào hàng. Thật ra, so với thương hiệu franchise ở các quốc gia và khu vực khác, franchise của Mỹ vẫn được thị trường Việt Nam tín nhiệm hơn cả. Ở Mỹ, mô hình franchise phủ rộng trên 75 ngành, từ ôtô, thực phẩm đến dịch vụ chăm sóc thể hình... Mỹ hiện là quốc gia đứng đầu thế giới về franchise, kiểm soát 70% thị phần toàn cầu. Ở Mỹ, có hơn 1 triệu điểm kinh doanh franchise với doanh thu hơn 2.000 tỉ USD/năm. Thống kê cho thấy, tại Mỹ, cứ 7 công ăn việc làm lại có 1 công việc liên quan đến franchise.
Ông Edwards cho biết, năm 1972, EGS đã đến châu Á, năm 1980 đặt nền móng ở Hồng Kông và đây là lần đầu tiên EGS đến Việt Nam. Các doanh nghiệp nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm, giáo dục… đang rất quan tâm đến thị trường Việt Nam. Ông cho rằng, tầng lớp thượng lưu và trung lưu đang tăng trưởng của Việt Nam là điều kiện rất thuận lợi cho kinh doanh franchise. Trong số 5 thương hiệu đến Việt Nam lần này, có tới 3 thương hiệu thuộc lĩnh vực ẩm thực và đều là những thương hiệu lớn.
Sự có mặt của Carl’s Jr, thương hiệu hamburger nổi tiếng ở Mỹ từ những năm 1960 đã gây ngạc nhiên cho giới kinh doanh nhượng quyền tại Việt Nam. Theo Tiến sĩ Lý Quí Trung, đây là một thương hiệu lớn. Carl’s Jr đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, có 3.100 cửa hàng nhượng quyền trên thế giới, doanh thu 3 tỉ USD/năm. Hiện thương hiệu này rất thành công ở Singapore, Malaysia và cũng đã có cửa hàng nhượng quyền tại Trung Quốc. Đại diện của Carl’s Jr cho biết, nếu có đối tác Việt Nam nhận franchise, Carl’s Jr sẽ đưa toàn bộ nhóm đào tạo từ Mỹ sang Việt Nam trong 12 tuần để huấn luyện nấu ăn, phục vụ… cho cửa hàng đầu tiên. Theo thống kê, từ năm 2003-2008, mức tăng trưởng doanh thu bình quân của mỗi cửa hàng Carl’s Jr trên toàn thế giới đạt 30%/năm. Đặc biệt, doanh thu của các cửa hàng nhượng quyền ngoài nước Mỹ luôn cao hơn cửa hàng tại Mỹ 20%. Yêu cầu của Carl’s Jr là bên nhận nhượng quyền phải kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm, có vị trí tốt để mở cửa hàng.
Không hoành tráng như Carl’s Jr, nhưng The Melting Pot lại thu hút nhiều sự chú ý đối với nhà đầu tư trong lĩnh vực nhà hàng. Thương hiệu nhà hàng lẩu phô mai 35 năm tuổi này có cách lựa chọn đối tượng khách hàng rất đặc biệt: những người đi ăn tối bên ngoài nhưng không thường xuyên, bình quân 2-3 lần/năm. Điều này khiến The Melting Pot thu hút được các khách hàng là những người khá cầu kỳ, muốn chọn một nhà hàng có phong cách riêng cho những dịp đặc biệt. Cũng vì có định vị khác biệt như thế nên đến nay The Melting Pot mới chỉ có 150 nhà hàng trên toàn thế giới. Diện tích cửa hàng tiêu chuẩn của mô hình nhà hàng này là 400-600 m2. The Melting Pot cho biết, đối tác nhận nhượng quyền không cần có kinh nghiệm kinh doanh nhà hàng, nhưng phải có vị trí thích hợp như nằm trong các siêu thị, trung tâm thương mại… và phải đưa nhân viên sang Mỹ huấn luyện.
Từ kết quả kinh doanh thành công của Pizza Hut tại Việt Nam, thương hiệu pizza của Mỹ nổi tiếng không kém là Round Table Pizza cũng không bỏ lỡ cơ hội vào Việt Nam. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn mà Round Table Pizza đưa ra khá khó khăn như tất cả nguyên liệu và bột mì phải tươi, nhào và dùng trong ngày, không giống như các thương hiệu pizza khác cho phép dùng bột nhào sẵn. Round Table Pizza cũng yêu cầu bên nhận nhượng quyền phải nhập toàn bộ nguyên liệu của họ. Với hệ thống 500 cửa hàng trên toàn thế giới, Round Table Pizza còn đảm bảo bộ phận hậu cần sẽ chuyển nguyên liệu đến mỗi ngày cho các cửa hàng nhượng quyền ở tất cả các quốc gia.
Sức mạnh châu Á
Giống như đồng nghiệp William Edwards, ông Albert Kong, Công ty AsiaWide Franchise, cũng đem đến Việt Nam 20 thương hiệu nhượng quyền của các nước châu Á như Thái Lan, Nhật, Singapore...
Ông Albert Kong cho rằng, châu Á đang dần trở thành một thị trường thu hút franchise, cũng như xuất khẩu thương hiệu franchise. Sức hấp dẫn của châu Á nằm ở dân số khổng lồ trong tương lai. Năm 2050, Ấn Độ sẽ có khoảng 1,6 tỉ người, Trung Quốc 1,4 tỉ người, trong khi châu Âu chỉ có 461 triệu, Mỹ 420 triệu. Theo Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, nếu không có biến động bất thường, đến năm 2040, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc và Nhật Bản sẽ lớn hơn GDP của Mỹ. Ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản chiếm 75% tỉ trọng của nền kinh tế Đông Á sẽ phát triển mạnh mẽ và franchise cũng bùng nổ theo.
Năm 1963, Nhật Bản là quốc gia châu Á đầu tiên “nhập khẩu” thương hiệu franchise. Hiện nay, tổng doanh thu từ kinh doanh nhượng quyền tại Nhật Bản đạt khoảng 166 tỉ USD/năm, trong đó nhượng quyền từ bán lẻ chiếm 67,6%, thực phẩm 20,9%. Nhưng cũng giống như hầu hết các thị trường franchise phát triển khác trong khu vực châu Á, hiện nay Nhật đã xuất khẩu franchise sang Thái Lan, Đài Loan và cả Mỹ. Thương hiệu thành công nhất của Nhật tính đến nay là chuỗi cửa hàng bán lẻ Seven-Eleven với 8.000 cửa hàng trên toàn thế giới.
Hàn Quốc mặc dù đi sau Nhật khá lâu, nhưng doanh thu từ kinh doanh nhượng quyền đã đạt khoảng 50 tỉ USD/năm. Trung Quốc cũng có bước phát triển thần kỳ. Mô hình franchise lần đầu tiên có mặt ở Trung Quốc năm 1992. Năm 2002, Trung Quốc mới chỉ có 410 hợp đồng nhượng quyền, nhưng đến năm 2005 số thương vụ nhượng quyền thành công ở quốc gia này đã là 2.320.
70%
Thị phần của Mỹ trên thị trường kinh doanh nhượng quyền toàn cầu. Ở Mỹ, mô hình nhượng quyền phủ rộng trên 75 ngành, từ ôtô, thực phẩm đến dịch vụ chăm sóc thể hình...
|
20 thương hiệu franchise đến từ châu Á lần này đã phần nào cho thấy sự am hiểu của họ về nhu cầu của thị trường Việt Nam. Ngoài 10 thương hiệu thực phẩm như Tasty Thái, Mì Lâm Gia của Singapore, Pasta de Waraku (mì bún theo phong cách Nhật Bản)… còn có 5 mô hình giáo dục mầm non. Đại diện Trường Mầm non Quốc tế The Little Skool-House (Singapore) cho biết, họ rất quan tâm đến phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về việc Việt Nam sẽ đầu tư mạnh vào ngành giáo dục mầm non. Vị đại diện này khẳng định, kinh tế khó khăn, các gia đình có thể không mua xe hơi, nhưng đầu tư cho con cái, đặc biệt là việc học hành thì không thể không làm. Hiện một đối tác ở quận 5, TP.HCM đã đề nghị The Little Skool-House cung cấp một chương trình giảng dạy theo mô hình 50% tiếng Anh, 40% tiếng Việt và 10% tiếng Hoa. Tập đoàn sở hữu thương hiệu giáo dục này có thâm niên 28 năm với doanh thu 2,8 tỉ USD trong năm 2008.
Độc đáo nhưng không xa rời thực tế, “bắt mạch” được nhu cầu của thị trường, có lẽ là thế mạnh của các thương hiệu nhượng quyền của châu Á. Cũng như nhiều quốc gia khác, nhu cầu về bảo dưỡng xe hơi tại Việt Nam hiện rất cao, nhưng lượng cung thì lại thấp, do chi phí xây dựng trung tâm bảo dưỡng khá cao. Vì thế, C3 Car Care Center, mô hình trung tâm bảo dưỡng xe hơi chuyên nghiệp của Indonesia, đã đến Việt Nam để tìm kiếm đối tác nhượng quyền. Đại diện của C3 Car Care Center cho biết, để giải quyết khó khăn về vốn, họ sẽ cung cấp một số vốn hỗ trợ ban đầu cho phía nhận nhượng quyền. Họ cũng không yêu cầu đối tác phải có hiểu biết về xe vì họ sẽ phụ trách khâu đào tạo nhân viên. Thậm chí C3 Car Care Center còn linh hoạt đưa ra 2 gói dịch vụ để đối tác lựa chọn. Gói cơ bản gồm rửa xe và sửa xe có mức phí nhượng quyền là 15.000 USD, thời hạn 5 năm, trong đó chi phí máy móc, dụng cụ tính theo giá thị trường. Nếu nhận nhượng quyền trọn gói gồm sửa xe, rửa xe, bảo trì xe, thay bánh xe, phí nhượng quyền là 20.000 USD. Vốn đầu tư toàn bộ cho một trung tâm khoảng 50.000 USD cho hình thức kinh doanh cơ bản và 110.000 USD cho hình thức kinh doanh trọn gói. Theo C3 Car Care Center, thời gian hoàn vốn cho mỗi cửa hàng là khoảng 3 năm.
Hai bộ mặt franchise Việt Nam
Các thương hiệu franchise quốc tế dành sự quan tâm khá lớn đến Việt Nam như vậy, còn thực tế thị trường franchise Việt Nam đang phát triển như thế nào? Theo nhiều đơn vị nhượng quyền được chúng tôi khảo sát, thị trường franchise Việt Nam đang song song tồn tại hai trạng thái: vẫn hào phóng đón nhận các thương hiệu nước ngoài, trong khi thương hiệu franchise nội địa lại chưa phát triển nhanh như mong đợi.
Sau 2 năm mua nhượng quyền độc quyền thương hiệu Gloria Jean’s Coffees, Công ty Phong Cách Sống Việt đã phát triển được hệ thống 7 cửa hàng từ Bắc vào Nam. Sắp tới, bà Nguyễn Phi Vân, Giám đốc Điều hành Gloria Jean’s Coffees Việt Nam, sẽ hợp tác với một Việt kiều tung ra thêm nhãn hiệu yaourt Yogen Fruz, dự kiến khai trương cửa hàng đầu tiên sau Tết Nguyên đán 2009. Điều này minh chứng cho sự tự tin của Phong Cách Sống Việt khi đưa thêm thương hiệu nhượng quyền của nước ngoài vào Việt Nam trong thời điểm này.
Yogen Fruz hiện có hơn 1.000 cửa hàng tại 32 quốc gia. Mỗi cửa hàng Yogen Fruz có diện tích trung bình 50-100 m2. Nếu mở cửa hàng trong trung tâm thương mại hoặc dạng ki-ốt, diện tích có thể chỉ khoảng 10-20 m2. Phía nhượng quyền sẽ giúp bên nhận nhượng quyền thiết kế cửa hàng theo phong cách hiện đại, thời trang. Yogen Fruz cũng dễ thu hút khách hàng vì không chỉ mua sản phẩm có sẵn, khách còn có thể tự pha chế tại cửa hàng. Trường hợp đối tác muốn nhận nhượng quyền nhưng không có thời gian trực tiếp quản lý, bên nhượng quyền sẽ cung cấp cả đội ngũ quản lý. Phí nhượng quyền từ 30.000-40.000 USD/năm, thời hạn 5 năm.
Trong khi đó, trong số các thương hiệu nhượng quyền nội địa, ngoài Phở 24 có bước tiến khá tốt, thì những tên tuổi như cà phê Trung Nguyên, thời trang Foci, bánh kẹo Kinh Đô Bakery… phần thì có dấu hiệu yếu kém, phần lại không dám bung ra.
Trường hợp cụ thể nhất là Kinh Đô. Dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực, nhưng thực phẩm vẫn là lĩnh vực chính của Kinh Đô. Nhưng ông Lê Phụng Hào, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kinh Đô, cho biết, Công ty rất cẩn thận trong việc nhượng quyền. Vì thương hiệu nhượng quyền Kinh Đô Bakery có sử dụng tên thương hiệu Kinh Đô nên nếu kinh doanh không tốt có thể gây ảnh hưởng xấu đến thương hiệu này. Ông Hào cũng cho biết, thời gian thương thảo một hợp đồng nhượng quyền Kinh Đô Bakery thông thường mất khoảng 8 tháng và mức đầu tư nhận nhượng quyền một cửa hàng Kinh Đô Bakery cũng khá lớn. Ngoài mức phí nhượng quyền đầu tiên là 100.000 USD và 3% doanh thu mỗi năm trong quá trình hoạt động, đối tác nhận nhượng quyền còn phải đầu tư 40.000-60.000 USD để xây dựng cửa hàng. Do đó, trong tổng số 29 cửa hàng Kinh Đô Bakery hiện nay, chỉ có 5 cửa hàng theo mô hình nhượng quyền.
Tỏ ra rất sốt sắng với mô hình nhượng quyền, bà Ngô Lệ Thu, Phó Giám đốc Kinh doanh Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra), cho biết, mục tiêu Satra đưa ra là sẽ nhượng quyền 10% trên tổng số 60 doanh nghiệp thành viên. Bà Thu cho rằng, các công ty này hoạt động đa lĩnh vực, vừa sản xuất vừa làm thương mại, dịch vụ sẽ có lợi thế về nguồn cung và giá khi tiến hành nhượng quyền. Và trong số đó Vissan là thương hiệu được Satra nêu ra đầu tiên.
Thế nhưng, ông Bùi Duy Đức, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Súc sản Vissan, lại cho biết, Vissan đã có kế hoạch nhượng quyền từ lâu, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được. Điều ông đắn đo là việc thống nhất giá bán sản phẩm giữa cơ sở nhận nhượng quyền với các cửa hàng phân phối thông thường của Công ty và đại lý. Vì nếu nhận nhượng quyền, đối tác phải trả một khoản phí. Khoản phí này sẽ được cộng trở lại vào giá bán, dẫn đến sự không đồng nhất về giá giữa các cửa hàng. Chưa kể, vì là công ty trực thuộc thành phố, nên khi có biến động giá, Vissan vẫn phải bán rẻ hơn thị trường 5-10% để góp phần bình ổn giá, thì làm sao buộc phía nhận nhượng quyền giảm giá theo được.
Mặc dù còn nhiều trở ngại, nhưng vừa qua Satra vẫn ký kết hợp tác với Công ty Tư vấn Nhượng quyền Thương mại AsiaWide Franchise để giới thiệu thương hiệu nhượng quyền nước ngoài vào Việt Nam và thương hiệu Việt Nam ra thế giới, thông qua các hội thảo, hội chợ kinh doanh nhượng quyền. Hai bên cũng đang tiến hành thủ tục xin cấp phép liên doanh với các đối tác khác của Việt Nam phát hành tạp chí Franchise dưới bản quyền của Tạp chí AsiaWide Franchise và Business Opportunities ở châu Á.
Thận trọng
Không giống như 20 thương hiệu franchise châu Á sang Việt Nam lần này đã công bố mức phí nhượng quyền, 5 thương hiệu của Mỹ giữ bí mật hoàn toàn về mức phí. Ông William Edwards, Công ty EGS, cho biết, thận trọng đã trở thành một nguyên tắc khi ông tư vấn xúc tiến nhượng quyền thương mại. Thông thường, quá trình thỏa thuận một hợp đồng nhượng quyền thương mại mất từ 6-9 tháng; cá biệt ở Nhật có trường hợp phải thỏa thuận tới 26 tháng. Ông nói: “Thời hạn của một hợp đồng franchise kéo dài 10-20 năm, nên không việc gì phải vội vã khi thương thảo. Đây là mô hình kinh doanh lâu dài, cần sự thỏa thuận kỹ lưỡng cho cả đôi bên. Các bạn nên cẩn trọng với những thương hiệu đến Việt Nam chưa được bao lâu đã đề nghị ký kết ngay”.
Khi đến Việt Nam, EGS yêu cầu chỉ làm việc với những doanh nghiệp Việt Nam có doanh thu ít nhất là 300.000 USD/năm. Vì nếu hợp tác, trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm chẳng hạn, đối tác nhận nhượng quyền phải mở ít nhất 5-10 cửa hàng trong thời gian ngắn. Có đơn vị nhượng quyền còn yêu cầu nộp phí nhượng quyền ngay. Ông Edwards cho biết, EGS cũng đại diện cho 25 thương hiệu tìm hiểu thị trường ở 26 quốc gia khác. Sau đó, tù y thuộc vào từng thị trường, từng ngành hàng, EGS mới đưa ra mức phí nhượng quyền cụ thể, cũng như các chính sách hỗ trợ.
Ông Albert Kong, Công ty AsiaWide, cũng cảnh báo, cách đây 3 năm, một thương hiệu cà phê nước ngoài vào Trung Quốc tiến hành franchise. Nhiều doanh nghiệp đã bỏ tiền ra để ký quỹ, nhưng sau đó chủ thương hiệu này đã “lặn” mất.
Đứng về phía nhà nhượng quyền, ông Lê Phụng Hào, Công ty Cổ phần Kinh Đô, cho rằng, không có chuyện cứ nhượng quyền thêm một hợp đồng là nhà nhượng quyền có lợi. Một nhà nhượng quyền thật tâm và khôn ngoan phải tính đến lợi ích của cả đối tác, chứ không chỉ lợi ích riêng của mình. Nếu đối tác nhận nhượng quyền hoạt động không tốt, uy tín của thương hiệu cũng như của nhà nhượng quyền sẽ bị ảnh hưởng.
Ngược lại, phía nhận nhượng quyền cũng phải xem xét kỹ trước khi quyết định. Ông Hào cho biết, một đối tác nhượng quyền của Kinh Đô Bakery đã phải thanh lý hợp đồng trước thời hạn do khi quyết định ký kết họ không lường trước được những khó khăn như kinh phí duy trì hoạt động thời gian đầu, vị trí kinh doanh chưa hợp lý, hiệu quả bước đầu không như mong muốn... Ông Hào ví von, franchise là một mối quan hệ nghiêm túc, giống như quy trình “tán tỉnh, yêu nhau, hứa hôn và cuối cùng là kết hôn”. Nếu không hạnh phúc, chia tay là kết thúc khó chịu và đau đớn. Do đó, hãy suy nghĩ kỹ trước khi chọn cho mình người bạn đời.
Kinh tế khó khăn là lúc franchise phát triển. Lúc này, doanh nghiệp cần tìm nguồn đầu tư an toàn và franchise đáp ứng được điều đó”.
Đây là mô hình kinh doanh lâu dài. Vì thế, hãy cẩn trọng với những thương hiệu đến Việt Nam chưa được bao lâu đã đề nghị ký kết nhượng quyền ngay”.
The Melting Pot hấp dẫn thực khách Mỹ sành ăn nhờ món lẩu phô mai nổi tiếng. Thương hiệu này cũng đã đến Việt Nam tìm đối tác nhượng quyền.
Các thương hiệu nhượng quyền của Mỹ và châu Á, trong đó có những thương hiệu rất lớn, đã cập bến Việt Nam”